Các tuyến Quốc lộ và cao tốc Long Thành quá tải – Đòi hỏi giải pháp đột phá sau sáp nhập TP.HCM – Đồng Nai - Chi tiết bài viết | Vietcap AI News
- 2025-07-28 19:19:00
- OTHER
Sau khi TP.HCM và Đồng Nai chính thức vận hành mô hình chính quyền hai cấp theo hướng đô thị đặc biệt, nhu cầu kết nối liên vùng giữa hai địa phương không ngừng tăng cao.
Lưu lượng thực tế trên cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây đã vượt xa thiết kế ban đầu (ảnh MN)
Tuy nhiên, thực trạng hạ tầng giao thông trên các tuyến trục chính như Quốc lộ 1 (QL1), Quốc lộ 51 (QL51) và đường cao tốc TP.HCM – Long Thành – Dầu Giây (HLD) đang đứng trước nguy cơ quá tải nghiêm trọng, trở thành điểm nghẽn lớn nhất cản trở lưu thông hàng hóa và đi lại của người dân.
Trục huyết mạch đang nghẹt thở
QL1 đoạn qua TP Biên Hòa (phường Trấn Biên hiện nay) và cửa ngõ phía Đông TP.HCM, vốn đã quá tải nhiều năm, nay càng trở nên ùn tắc nặng nề khi lượng phương tiện tăng đột biến sau sáp nhập hành chính. Trong khi đó, QL51, trục kết nối cảng Cái Mép – Thị Vải với Đồng Nai và TP.HCM cũng thường xuyên xảy ra tình trạng kẹt xe kéo dài hàng chục km, đặc biệt vào giờ cao điểm và các dịp lễ tết.
Đáng chú ý nhất là cao tốc HLD, tuyến đường được xem là huyết mạch cao tốc khu vực phía Nam, đã đạt ngưỡng hơn 23 triệu lượt xe, vượt xa lưu lượng thiết kế ban đầu. Các điểm nút giao như Long Thành, An Phú, Dầu Giây thường xuyên bị ùn tắc, làm ảnh hưởng trực tiếp đến chuỗi cung ứng, vận chuyển logistics và cả dòng khách du lịch đi Vũng Tàu, Đà Lạt. (Dự án cao tốc HLD giai đoạn 1 đưa vào khai thác từ ngày năm 2016 với tổng chiều dài 55 km, trong đó phân đoạn TP.HCM - Long Thành là 25,92 km.
Đặc biệt, đoạn TP.HCM - Long Thành vượt giới hạn năng lực thông qua và sẽ không thể đáp ứng được khả năng lưu thông khi Cảng hàng không Quốc tế Long Thành đưa vào khai thác sử dụng dự kiến năm 2026.)
Mâu thuẫn giữa phát triển và hạ tầng lỗi nhịp
Sau khi thực hiện sáp nhập hành chính, TP.HCM và Đồng Nai đã hình thành một siêu đô thị có dân số hơn 16 triệu người, đóng vai trò là trung tâm công nghiệp – thương mại – dịch vụ – logistics của toàn vùng Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, hạ tầng giao thông lại chưa được nâng cấp tương xứng với tốc độ đô thị hóa và nhu cầu di chuyển, vận tải ngày càng lớn.
Chỉ riêng khu vực cảng Cát Lái – Nhơn Trạch – Long Thành đã đóng góp hơn 30% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của vùng, nhưng lại phụ thuộc gần như hoàn toàn vào các tuyến đường đã cũ, nhỏ hẹp và thường xuyên quá tải. Trong khi đó, việc chậm tiến độ các dự án trọng điểm như Vành đai 3 TP.HCM, cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu, cầu Cát Lái mới… khiến áp lực dồn nén lên hệ thống đường hiện hữu ngày càng lớn.
Trong khi chính quyền hai địa phương đang đẩy mạnh liên kết vùng, cải cách hành chính, thúc đẩy đầu tư, nếu không có đột phá về hạ tầng, mọi chủ trương đều bị tắc ngay từ khâu vận hành thực tế.
Một khi Cảng hàng không Quốc tế Long Thành đi vào khai thác, áp lực càng đè nặng giao thông vùng (ảnh LCT, công trường nhà ga Cảng HKQT Long Thành)
Cần tầm nhìn liên vùng và giải pháp đặc thù
Trong bối cảnh các tuyến trục động lực đã chạm giới hạn lưu thông, việc nâng cấp riêng lẻ, cục bộ từng tuyến đường sẽ không đủ sức tháo gỡ. Vấn đề đặt ra là cần một tầm nhìn tổng thể, mang tính liên vùng, có sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Đây không chỉ là vấn đề đầu tư công, mà còn là bài toán tổ chức không gian phát triển, quy hoạch đô thị – công nghiệp – giao thông đồng bộ.
Các chuyên gia dự kiến, phải có 3 nhóm giải pháp cần được khẩn cấp triển khai:
Thứ nhất: Ưu tiên đầu tư và đẩy nhanh tiến độ các tuyến giao thông kết nối trọng điểm, gồm: mở rộng cao tốc HLD ; triển khai nhanh tuyến Vành đai 3 và 4; sớm hoàn thành tuyến cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu và khởi công cầu Cát Lái nối TP Thủ Đức (cũ) – Nhơn Trạch (cũ).
Thứ hai: Điều tiết luồng giao thông và phân vùng vận tải thông minh, ứng dụng dữ liệu số để giảm tải giờ cao điểm, điều hướng logistics ra khỏi khu dân cư đông đúc.
Thứ ba: Tăng cường phối hợp quy hoạch vùng giữa TP.HCM - Bà Rịa – Vũng Tàu - Đồng Nai, xây dựng cơ chế điều phối vùng có tính ràng buộc pháp lý và ngân sách chung để triển khai các công trình liên tỉnh.
Không thể phủ nhận những nỗ lực của hai địa phương trong cải cách thể chế, thúc đẩy đầu tư công, đặc biệt là quyết tâm chính trị trong triển khai các siêu dự án giao thông. Tuy nhiên, nếu các dự án trọng điểm tiếp tục trì trệ vì thiếu vốn, vướng giải phóng mặt bằng hay chậm thủ tục, thì bài toán phát triển giao thông liên vùng sẽ bị kéo lùi.
Hạ tầng giao thông không chỉ là điều kiện để phát triển, mà còn là tiêu chí kiểm nghiệm hiệu quả cải cách thể chế. Một chính quyền hai cấp mạnh, nếu không giải quyết được điểm nghẽn hạ tầng, sẽ khó lan tỏa được kỳ vọng của người dân và doanh nghiệp sau sáp nhập.
Cần coi việc đầu tư và điều phối hạ tầng giao thông kết nối TP.HCM – Đồng Nai là ưu tiên chiến lược, cấp thiết như một phần cấu thành năng lực cạnh tranh vùng. Và quan trọng hơn, phải có sự điều hành mạnh mẽ, vượt qua lợi ích cục bộ, chấm dứt tư duy nhiệm kỳ trong phát triển hạ tầng nếu muốn tháo gỡ thực sự cho trục động lực phía Nam.